Tự hào là chiến sĩ Điện Biên

16/04/2024 10:22

Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng tôi xúc động khi được gặp gỡ và trò truyện với cựu chiến binh Nguyễn Văn Mỵ, chứng nhân cuối cùng của thị xã Bỉm Sơn (Thanh Hoá) trong chiến dịch "56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt", làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Mỵ hiện đang sống tại phường Phú Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Dù năm nay đã 95 tuổi, nhưng ông vẫn có một sức khoẻ dẻo dai, nhanh nhẹn, minh mẫn. Ông Mỵ đón tiếp chúng tôi bằng những câu chuyện hào hùng của một cựu chiến binh đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” năm xưa…

 Cựu chiến binh Nguyễn Văn Mỵ, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Theo câu chuyện kể, ông Nguyễn Văn Mỵ sinh năm 1929, trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Cẩm La, xã Hà Dương, huyện Hà Trung,  tỉnh Thanh Hoá. Với lòng căm thù giặc sâu sắc, năm 1951, khi đó ông 22 tuổi, mặc dù đã lấy vợ và có một người con gái còn nhỏ, nhưng ông đã giác ngộ lý tưởng cách mạng của Đảng và gia nhập QĐND Việt Nam. Sau một thời gian tham gia bộ đội địa phương và được học tập, huấn luyện tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, tháng 2 năm 1953, ông Mỵ được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, với vị trí của một người lính lựu pháo 82, thuộc Đại đội 5, Tiểu đoàn 413, Trung đoàn 237, Sư đoàn 351 anh hùng.

Ông vẫn nhớ ngày hành quân lên Tây Bắc, từ nơi đóng quân huyện Yên Thành (Nghệ An) băng qua quãng đường dài với nhiều khu rừng già hiểm trở. Để đảm bảo bí mật, an toàn nên đơn vị của ông phải hành quân vào ban đêm, kéo dài cả tháng trời mới tới được Điện Biên Phủ. Cuộc hành quân để lại trong tâm trí ông là một hành trình băng rừng, lội suối với địa hình phức tạp, những quả đồi núi cao, những con dốc lớn, những con đường bí mật xuyên rừng cùng những con suối sâu nước chảy xiết. Dù trải qua hành trình gian khổ, vất vả, hiểm nguy nhưng tinh thần của các chiến sỹ bộ đội và dân công ta luôn bừng bừng khí thế, ý chí quyết tâm đánh thắng kẻ thù.

Ông Mỵ nhớ lại: "Vào 19h ngày 14 tháng 4 năm 1954, đúng giai đoạn ác liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ, tổ của tôi gồm 3 người gồm tôi, đồng chí Quang và đồng chí Sáng, trong đó đồng chí Sáng là tổ trưởng, được giao nhiệm vụ đào giao thông hào ở vị trí trên đỉnh đồi A1. Khi mới đào hào được đến độ sâu bằng đầu gối thì quân địch bắn pháo sáng và phát hiện ra chúng tôi. Chúng nã pháo rất ác liệt về phía chúng tôi, anh em chúng tôi chỉ biết nằm rạp xuống lòng hào tránh đạn. Trong đêm tối, chúng tôi không nhìn thấy gì, chỉ đến khi tôi thấy mặt ướt sũng, nước chảy vào miệng thấy vị mặn thì mới biết mình đã bị thương. Tôi lần tìm được đồng chí Sáng, lay gọi nhưng đồng chí ấy đã hi sinh rồi. Tôi cố bò về được đến hầm thì lịm đi, không biết gì nữa. Sáng hôm sau, quân y mổ để lấy những mảnh đạn đang găm trong đầu tôi ra. Trong số 6 mảnh đạn ấy thì họ chỉ lấy được 4 mảnh ra, còn 2 mảnh ở vị trí xung yếu nên không thể lấy ra được. Khi đó, phẫu thuật hoàn toàn không có thuốc gây tê gì. Bây giờ, hai mảnh kim loại đó vẫn còn trong đầu tôi đây”. Vừa nói ông Mỵ vừa đưa tay chỉ lên vùng đầu bên trên thái dương.

Để góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ hào hùng, đã có sự hi sinh, mất mát to lớn của biết bao người lính Bộ đội Cụ Hồ, vì độc lập, tự do của dân tộc, trong đó, có những người lính lựu pháo 82 Trung đoàn 237. Khi nhắc đến sự hi sinh, mất mát của đồng đội, ông Mỵ nghẹn ngào: “Nhiều đồng chí đã bị thương, hi sinh trong quá trình chiến đấu, nhưng được sự quan tâm, động viên của đội ngũ cán bộ chính trị, với lòng yêu nước, căm thù giặc nên chúng tôi đã nhanh chóng tổ chức lại đội hình chiến đấu với khẩu hiệu “Còn một người, một khẩu pháo, một viên đạn cũng quyết tâm chiến đấu”. Cả đơn vị ai cũng thương nhớ các đồng chí hi sinh nên càng quyết tâm chiến đấu với quân địch đến cùng”.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Mỵ say sưa kể về những ngày đêm khói lửa trong chiến dịch Điện Biên Phủ. 

Kết thúc chiến dịch Điện Biên, ông Mỵ tiếp tục phục vụ trong quân đội, đến năm 1959 thì chuyển ngành sang làm việc tại Nhà máy Gang thép Thái Nguyên. Trên cương vị công tác mới ông trải qua nhiều công việc như làm kỹ thuật ở đài truyền thanh, đội thi công lắp máy hay đội sản xuất của nhà máy. Ở bất kỳ công việc nào ông cũng luôn hoàn thành tốt nhất công việc được giao và được cơ quan khen thưởng, đồng nghiệp tin yêu, kính trọng.

Năm 1971, ông Mỵ nghỉ hưu, trở về quê hương. Với sự tín nhiệm của bà con, ông tiếp tục đóng góp công sức và trí tuệ ở vị trí Bí thư Chi bộ thôn Cẩm La. Trong suốt những năm công tác tại địa phương, ông luôn tìm tòi, học hỏi và sáng tạo các kỹ thuật nông nghiệp để áp dụng vào sản xuất, giúp bà con quê hương. Với bản chất người lính Điện Biên năm xưa từng xông pha nơi lửa đạn hiểm nguy, không có khó khăn nào làm ông nản chí. Không những thế, ông Mỵ còn là người đi tiên phong trong phong trào phát triển kinh tế bằng các hoạt động kinh doanh lương thực, thực phẩm. Ông không những phát triển kinh tế cho gia đình mà còn giúp rất nhiều gia đình cùng vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của thời kỳ chuyển đổi kinh tế. Ông là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ con cháu học tập và tự hào.

Giờ đây, khi đã bước vào tuổi 95 nhưng ông Mỵ vẫn rất minh mẫn và luôn vui vẻ bên con cháu, bà con xóm giềng. Ông vẫn tự mình nấu cơm, chăm sóc cây cối quanh nhà và chăm sóc bản thân, đạp xe để tập thể dục và mỗi ngày vẫn say mê với công nghệ thông tin. Mặc dù các con, cháu muốn được chăm sóc ông từng bữa ăn giấc ngủ nhưng ông nói, ông còn tự làm được những công việc thường ngày nên vẫn muốn được tự mình làm lấy.

Khi được hỏi bí quyết để ông có được sức khoẻ như hiện nay, ông hào hứng chia sẻ: Muốn khoẻ thì tinh thần phải thật thông suốt, làm việc và sinh hoạt có khoa học và kỷ luật như một người lính, sống chan hoà và yêu thương mọi người.

 Ở tuổi 95, cựu chiến binh Nguyễn Văn Mỵ vẫn tự mình làm được những công việc yêu thích.

Chiến tranh đã lùi xa, những chiến sĩ Điện Biên, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến ngày nào, người còn sống thì tuổi ít nhất cũng đã ngoài 90. Những đóng góp, hy sinh, ý chí quật cường, công lao to lớn của họ mãi mãi được khắc ghi trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc./.

 
Thanh Huệ
Nguồn dangcongsan.vn
Viết bình luận mới